KHÍ CỤ ACTIVATOR

Khí cụ Activator là một trong những loại khí cụ hỗ trợ thay đổi cấu trúc xương hiệu quả trong quá trình chỉnh nha.

Phần I

1. Lịch sử phát triển của khí cụ Activator

Năm 1880, Kingsley đưa ra thuật ngữ và quan niệm “nhảy khớp” (jumping the bite) ở những bệnh nhân có hàm dưới lùi sau. Ông làm một loại khí cụ hàm trên có mặt nghiêng ở phía trước để hướng dẫn hàm dưới đưa về trước khi hàm dưới đóng lại. Chính ý tưởng của Kingsley đã ảnh hưởng đến sự phát triển của khí cụ chỉnh hình chức năng.

Năm 1908, Andresen là người đầu tiên đưa ra khí cụ activator dựa trên ý tưởng của Kingsley. Đây là loại khí cụ tháo lắp, nằm lỏng lẻo trong miệng bệnh nhân và chuyển những kích thích cơ đến xương hàm, răng và các mô nâng đỡ răng trong khi thực hiện chức năng.

Nhiều năm trước đó, Robin đã đưa ra một loại khí cụ tương tự activator và gọi là khí cụ monobloc. Khí cụ monobloc giúp đưa hàm dưới về trước ở những bệnh nhân có lưỡi nằm phía sau và hàm dưới lùi sau nhiều gây nguy cơ lưỡi bít kín đường thở. Robin nhận thấy hàm dưới ở vị trí đưa về trước đã làm giảm nguy cơ này và cải thiện đáng kể tương quan giữa hai xương hàm trên và hàm dưới theo chiều trước sau.

Andresen cùng với Haulp – một bác sĩ Nha chu và là một nhà mô học – nghiên cứu và viết về khí cụ activator. Hai ông cho rằng activator không thể tạo ra một xương hàm dưới lớn từ một xương hàm dưới nhỏ, nhưng nó có thể giúp bệnh nhân có được một xương hàm dưới có kích thước tối ưu. Mục đích điều trị của activator là bằng cách đặt hàm dưới ở vị trí về phía trước để kích thích những thay đổi của lồi cầu và nhờ đó đạt được khớp cắn mong muốn. Những quan niệm về dự đoán tăng trưởng, hướng tăng trưởng và thời gian tăng trưởng còn rất mơ hồ vào thời đó.

Khí cụ activator gồm hai nền nhựa hàm trên và hàm dưới liên kết với nhau ở mặt phẳng nhai và có một cung môi ở hàm trên. Khí cụ có thể được chẻ đôi theo đường giữa và một lò xo đàn hồi được đặt vào để nới rộng hàm. Sau này, khí cụ còn được gắn thêm các loại lò xo khác và ốc nới rộng.

Năm 1952, Escler đã cải tiến cung môi. Cung môi gồm có hai phần: phần tác động dùng di chuyển răng, phần thụ động giữ mối dưới rời khỏi cung răng và giúp các răng di chuyển như mong muốn. Cung môi đã loại bỏ những áp lực mô mềm không mong muốn trong khi đặt lực chính xác lên các răng di chuyển. Cung môi cải tiến đặt nền tảng cho sự phát triển của một số loại khí cụ chức năng sau này.

Do khí cụ activator cồng kềnh nên bệnh nhân thường mang vào ban đêm. Các biến thể của khí cụ chức năng sau này gọn gàng hơn cho phép bệnh nhân mang nhiều thời gian hơn. Có hai kiểu biến thể chính:

Khí cụ activator gồm nền nhựa hàm trên và hàm dưới nối nhau bằng nhựa nhưng được làm giảm thể tích:
  • Một số khí cụ được mài bỏ bớt phần nhựa khẩu cái, được gọi là khí cụ activator hở (open activator).
  • Một số khí cụ được mài bỏ bớt một ít nhựa khẩu cái, và được tăng cường bằng những đoạn dây đi ngang khẩu cái.

Loại khí cụ gồm nền nhựa hàm trên và hàm dưới nối với nhau bằng những cung dây. Khí cụ Schwarz là một biến thể đầu tiên của nhóm này. Khí cụ chức năng loại đàn hồi này không quá cồng kềnh nên bệnh nhân thấy thoải máo và mang nhiều thời gian hơn.

2. Cách tác động của khí cụ activator

Activator hiệu quả trong việc cải thiện chức năng và tạo ra những thay đổi cấu trúc bên trong và hình dạng bên ngoài của xương, đặc biệt trong giai đoạn tăng trưởng. Activator làm tăng đáp ứng cơ xương bằng cách tạo ra một kiểu đóng hàm mới của xương hàm dưới.

Có ba nhóm quan điểm chính trong việc giải thích tác động của khí cụ activator:

Theo quan điểm của Andresen – Haulp, Petrovic, McNamara, Grude,… các lực tạo ra trong điều trị bằng khí cụ activator là do sự co cơ và hoạt động phản xạ cơ. Một khí cụ lỏng lẻo trong miệng sẽ kích thích các cơ hoạt động. Hoạt động phản xạ của cơ và sự co cơ đẳng trường làm tăng đáp ứng cơ, xương bằng cách tạo ra kiểu đóng hàm mới của hàm dưới. Đầu trên của cơ chân bướm ngoài có vai trò rất quan trọng vì chúng hỗ trợ trong đáp ứng xương. Các activator được thiết kế với hàm dưới đưa ra trước đến vị trí răng cửa đối đầu và mức độ mở hàm dưới nhỏ sẽ hoạt động theo kiểu này.

Các tác giả như Selmer – Olsen, Herren (1953), Woodside (1973), Harvold (1974),… cho rằng tính chất đàn hồi của cơ và sự kéo dãn mô mềm quyết định hoạt động của activator. Khí cụ activator bị siết chặt giữa hai hàm trên và dưới như một cái nẹp. Khí cụ activator không làm tăng hoạt động phản xạ cơ nhưng lịa cho một sự kéo dãn mô mềm lớn, tạo ra năng lượng thế năng làm khí cụ hoạt động và tạo những thay đổi xương, răng. Để khí cụ hoạt động theo cách này, hàm dưới cần đưa nhiều về trước và có đổ mở hàm lớn. Bình thường, hàm dưới tự mở ra khi bệnh nhân ngủ. Nếu hàm dưới chỉ mở ra 3 – 4 mm khi mang khí cụ activator thì khí cụ sẽ bị rơi ra khỏi miệng, hoặc khí cụ sẽ không có tác dụng. Theo Woodside, hàm dưới cần đưa nhiều về trước tạo cắn chéo răng cửa và mở lớn hơn tư thế nghỉ từ 10 – 15 mm.

Như vây, tất cả các kiểu hoạt động của khí cụ activator phụ thuộc vào hướng và mức độ mở hàm dưới khi thiết lập tương quan khớp cắn mới. Bằng cách xem xét đặc điểm sọ mặt của từng cá nhân, quá trình tăng trưởng, mục tiêu điều trị, bác sĩ điều trị có thể thực hiện khí cụ activator hoạt động theo cách mà mình mong muốn.

3. Ảnh hưởng của activator lên xương hàm và ổ răng

Activator ảnh hưởng lên đường khớp giữa các xương và lên khớp thái dương – hàm. Khí cụ cũng tác động lên xương ổ răng, đặc biệt trong quá trình mọc răng.

3.1 Tất cả mọi ảnh hưởng của activator lên xương phụ thuộc vào tiềm năng tăng trưởng. Có hai vector tăng trưởng chính:

  • Tăng trưởng làm dịch chuyển nền sọ và phức hợp mũi – hàm lên trên và ra trước.

  • Tăng trưởng ở vùng lồi cầu làm dịch chuyển xương hàm dưới xuống dưới và ra trước.

Khí cụ activator rất hiệu quả trong việc kiểm soát sự phát triển xuống dưới và ra trước của xàm dưới. Theo Johnston (1976), nếu hàm dưới được đưa về phía trước thì hướng tăng trưởng quan trọng hơn mức độ tăng trưởng. Sự phát triển lên trên và ra sau của lồi cầu có khả năng đẩy hàm dưới về phía trước. Đầu trên của cơ chân bướm ngoài giữ vai trò quyết định trong sự tăng trưởng của lồi cầu vì hoạt động của cơ này làm lồi cầu di chuyển về phía trước.
Activator cũng có thể ảnh hưởng lên sự tăng trưởng và di chuyển của phức hợp mũi – hàm trên.
Activator còn làm thay đổi tương quan xương hàm theo chiều đứng, Độ nghiêng của nền xương hàm trên thay đổi có thể bù trừ cho sự xoay của hướng tăng trưởng của hàm dưới. Nền của xương hàm trên di chuyển xuống dưới cho phép xương xương hàm trên đáp ứng với sự xoay theo chiều đứng của xương hàm dưới. Nếu khí cụ làm hàm dưới mở theo chiều đứng ít thì sẽ ngăn cản sự phát triển tầng mặt giữa ra trước. Nếu khí cụ làm hàm dưới mở theo chiều đứng nhiều thì sẽ ngăn cản tầng mặt giữa phát triển xuống dưới.

3.2 Tác động của activator lên răng – xương ổ răng giúp đạt được mục tiêu điều trị chính.

Trong quá trình tăng trưởng, răng và xương ổ răng lấp đầy khoảng trống giữa hai vector tăng trưởng. Activator hiệu quả trong việc kiểm soát sự mọc răng và bồi đắp xương ổ răng. Do đó, khí cụ có hiệu quả nhất nếu được sử dụng trong giai đoạn răng hỗn hợp.

4. Các lực sử dụng trong điều trị bằng activator

Trong điều trị bằng activator, có thể có những lực sau:

4.1 Các lực tự nhiên

Tạo ra do tiềm năng tăng trưởng, sự mọc răng và di chuyển răng. Những lực này có thể được hướng dẫn, đẩy mạnh hay ngăn chặn bởi khí cụ activator.

4.2 Lực tạo ra do sự co cơ và kéo dãn mô mềm

Khi hàm dưới được đẩy về trước, khí cụ activator sẽ kích thích và chuyển dạng các co thắt cơ. Những lực co cơ lúc đầu là chức năng nhưng được hoạt hóa thành nhân tạo. Các lực chức năng nhân tạo này có thể ảnh hưởng cả ba chiều:

a. Trong mặt phẳng đứng dọc, hàm dưới bị đẩy xuống dưới và ra trước, do đó các lực của cơ được chuyển đến lồi cầu và tạo một sức căng ở vùng lồi cầu. Một lực tương đối nhẹ được chuyển đến xương hàm trên.

b. Trong mặt phẳng đứng ngang, các răng và xương ổ răng có thể bị các lực tác động hay giảm tác động. Các lực này cũng có thể được chuyển đến hàm trên, hạn chế sự tăng trưởng hàm trên và ảnh hưởng lên độ nghiêng của nền xương hàm trên.

c. Trong mặt phẳng ngang, các lực này có thể điều chỉnh đường giữa.

4.3 Những yếu tố tạo lực khác

Lò xo, ốc nới rộng… được gắn vào khí cụ để tạo lực tác động.

Loại lực tác động, cường độ và hướng của lực phụ thuộc vào sự di chuyển của hàm dưới theo ba chiều trong không gian xác định bởi khớp cắn được thiết lập.

—————

Hotline: 0901 447 969
Trụ sở: Số 3D Trần Phú, Phường 4, Quận 5, TP.HCM.
Chi nhánh: A10 KDC Barya City, P. Long Toàn, TP. Bà Rịa.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

viVI
0901447969
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon