Một số vấn đề cơ bản trong phòng ngừa và điều trị sớm

Phòng ngừa và điều trị sẽ hỗ trợ phòng tránh các rủi ro sau này.

A.    ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG VÀ CAN THIỆP TỐI THIỂU

1.     Dự phòng toàn thân:

Dự phòng toàn thân là dự phòng từ quá trình bào thai, cuộc đẻ an toàn và chế độ chăm sóc toàn diện sau sinh.

Dự phòng toàn thân cũng bao hàm dự phòng đa chuyên khoa. Chuyên khoa Tai mũi họng là chuyên biệt có liên quan chặt chẽ, sự bất thường của chuyên khoa này ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của xương hàm trên.

2.     Dự phòng tại chỗ (răng – miệng)

a)    Thời điểm 0 – 3 tuổi: Thời kỳ mọc răng sữa

–         Chế độ dinh dưỡng vẫn được coi là yếu tố dự phòng ở giai đoạn này. Khi răng cối sữa mọc lên (khoảng 14 – 16 tháng tuổi) làm nâng khớp cắn, giảm độ cắn phủ và bắt đầu hình thành chiều cao khớp cắn nên chuyển dạng thức ăn từ lỏng sang đặc góp phần tạo sự hài hòa phát triển cơ nhai đặc biệt là cơ cắn.

  • Sự thuận lợi khi nhai bằng cơ cắn:

                    1. Tải lực chức năng tốt, khung xương vững mạnh 

                    2. Thức ăn được nghiền nát.

                   3. Răng sữa bị mài mòn

                  4. Cung răng dưới dời chỗ ra trước

                  5. Những răng cối được sắp xếp thuận lợi

                6. Giảm độ cắn phủ

  • Sự bất lợi khi nhai bằng cơ thái dương:

                      1. Tải lực yếu, sự phát triển không hoàn toàn của khung xương

                    2. Thức ăn chỉ được nhai trên bề mặt

                   3. Mài mòn ít

                  4. Cung răng dưới không dời chỗ ra trước

                  5. Răng cối thứ nhất ở vị trí không ổn định

                  6. Cắn phủ quá mức.

–         Kiến thức về chăm sóc răng miệng cho trẻ của bà mẹ là tiền đề cho dự phòng bệnh lý răng miệng nói chung và dự phòng Chỉnh nha nói riêng. Một số trường hợp do cách bú (cách ngậm núm vú) của trẻ là nguyên nhân gây cắn chéo răng trước từ bộ răng sữa, nhưng rất tiếc là không được phát hiện sớm; hoặc cho trẻ  nằm nghiêng 1 bên kéo dài có thể gây lệch sọ và cắn chéo răng sau 1 bên.

–         Một số trẻ có thói quen mút núm vú, mút tay từ giai đoạn này cần sớm được quan tâm và loại bỏ. Ở giai này việc loại bỏ thói quen xấu dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao.

–         Một số trường hợp có dị tật bẩm sinh được can thiệp sớm trong thời kỳ này.

 b)    Thời kỳ  3 – 6 tuổi: bộ răng sữa toàn diện.

–         Dự phòng các bệnh lý răng miệng nói chung. Chế độ chăm sóc răng miệng và dinh dưỡng cho trẻ cũng được coi là dự phòng điều trị Chỉnh nha. Số lượng, chất lượng và độ cứng của thức ăn liên quan trực tiếp đến sự phát triển của bộ răng và khớp cắn.

–         Tiêp tục phát hiện sớm và loại bỏ thói quen xấu, đây là dự phòng tích cực nhất.

–         Phát hiện sớm những bất thường, sai lệch khớp cắn để tư vấn cho gia đình BN hợp tác thực hiện các biện phát nhằm cải thiện sai lệch và duy trì khớp cắn bình thường.

+ Tiêu chí đánh giá bộ răng sữa bình thường về tương quan khớp cắn:
  • Có khoảng hở ở  vùng răng cửa.
  • Bình diện giới hạn phía xa răng cối sữa thứ hai (mặt phẳng tận) là  phẳng hoặc bậc gần (Có 3 loại mặt phẳng tận của răng số 5 sữa hai hàm: Phẳng – Bậc phía gần – Bậc phía xa. Răng cối vĩnh viễn hàm dưới có xu hướng di gần vào tương quan Class I từ mặt phẳng tận phẳng của răng sữa)
  • Răng nanh Class I – điều này có thể thay đổi khi tăng trưởng.
  • Răng cửa cắn sâu hoặc cắn đối đầu.
  • Chưa thể đánh giá tương quan xương hai hàm trong giai đoạn này, nếu có dị tật bẩm sinh thì can thiệp phẫu thuật sớm.
+ Mục tiêu điều trị: Giai đoạn này gọi là giai đoạn duy trì khoảng, vì bất cứ sự mất chiều dài cung răng nào trong giai đoạn này cũng làm cho bộ răng tương lai bị chen chúc. Mục tiêu điều trị ở giai đoạn này là điều trị dự phòng chống mất khoảng do sâu răng, mất răng sớm và loại bỏ sớm thói quen xấu nếu có. Thực tiễn lâm sàng cho thấy tình trạng sâu răng cối sữa rất phổ biến là nguyên nhân chính làm mất khoảng Leeway (độ chênh khoảng của 3 răng 3-4-5 sữa với 3 răng VV tương ứng trung bình = +0,9 mm ở hàm trên và +1.7 mm ở hàm dưới/một bên; Độ chênh dư khoảng này chủ yếu là nhờ độ chênh khoảng giữa răng 5 sữa so với răng 5 VV còn gọi là Khoảng E). Ở giai đoạn này nếu được chăm sóc răng miệng tốt, trám răng sớm không những bảo vệ được khoảng mà còn giữ được thăng bằng cơ chức năng.
Nguyên tắc di chuyển răng:
  1. Thực hiện di chuyển nghiêng răng chứ không di chuyển tịnh tiến (răng cửa)
  2. Di gần và mọc răng có hướng dẫn sẽ được áp dụng trong giai đoạn này, bao gồm:
  • Các R5 sữa hướng dẫn R6 mọc (mất R5 sữa sớm thì R6 sẽ mọc ở gần hơn)
  • Mất R3 dưới thì răng cửa sẽ trượt về 1 bên và ngả lưỡi
  • Mất R4 dưới thì R3 sẽ di xa
Can thiệp lâm sàng:
  • Cắn chéo răng trước: có thể dùng cung khẩu cái đẩy răng cửa hàm trên 1 – 2 mm/tháng. Cũng có thể đợi đến thời điểm bắt đầu thay răng cửa dưới, việc đẩy răng cửa trên thuận lợi hơn.
  • Cắn chìa: Thường do thói quen mút tay, loại bỏ thói quen xấu khi đó sự cân bằng môi – má – lưỡi sẽ tái lập thăng bằng cho răng
  • Cắn chéo răng sau: Chưa có chỉ định điều trị

 

Nguồn: BS Cao Chiến – Diễn Đàn Nha Sĩ Sài Gòn

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

viVI
0901447969
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon